menu

Được đăng bởi An Nguyen vào lúc 22

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Phi gỏi cá mai, bất ghé Đề Gi

Đấy là câu cửa miệng của nhiều người dân quê ở Đề Gi, Cát Khánh, Phù Cát. Đề Gi có đặc sản gì? Gỏi cá mai chớ còn gì nữa. “Đi mà không nếm gỏi mai. Sao gọi đã đến Đề Gi cho đành”. Một anh bạn đã “xuất khẩu” hai câu thơ, giữa lúc còn đang nhồm nhoàm miếng gỏi cá mai bùi bùi, beo béo.
Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì cửa Đề Gi “rộng 11 trượng (1 trượng = 3,33m theo hệ đo lường cổ Trung Hoa), thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 4 thước. Phía tây có đầm Đạm Thủy, thuyền buôn thường đổ ở đây". Con cá mai, cá trỏng chủ yếu sống ở đầm Đạm Thủy, vùng từ Cát Khánh đến xã Mỹ Thành (Phù Mỹ). Về hình thức, con cá mai, cá trỏng gần giống như cá cơm vậy, nhưng thịt trong hơn, và hầu như không có máu. Chỉ người dân địa phương nghiện ăn gỏi cá mới phân biệt được được con cá nào là cá mai, con nào là cá trỏng. Cá trỏng trông dài hơn con cá mai. Cá mai dẹp mình hơn, ngắn hơn. Ở Đề Gi có hai quán làm gỏi cá mai ngon, trong đó quán Thiên Lý.
  
Cá được trộn với thính, vừa khô ráo lại vừa thơm ngon, kích thích vị giác của thực khách.
Quán được lấy tên theo bà chủ Nguyễn Thị Thiên Lý. Bà Lý bảo từ năm 22 tuổi bà đã biết làm món gỏi cá này rồi. Nay, bà đã gần 60 tuổi, cũng chỉ chuyên bán duy nhất một món này mà thôi. Quanh năm. Từ tháng 2 đến tháng 6 âm lịch là mùa cá mai, từ tháng 6 đến tháng 12 là mùa cá trỏng. Con cá mai ăn thịt giòn hơn. Còn con cá trỏng thịt ngọt hơn, song ít giòn. Tuy theo gu của mỗi người mà thích, nhưng cả hai mà làm gỏi đều ngon. 

Lễ hội chùa Linh Phong

 
Trước chánh điện chùa Linh Phong
Trong hai ngày 24 và 25 tháng Giêng âm lịch (tức 14 và 15-2), tại chùa Linh Phong xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, đã tổ chức ngày giỗ của Hòa thượng Thích Trừng Tịnh, hiệu là Viên Minh. Đây là vị Hòa thượng có nhiều đóng góp cho sự phát triển của chùa Linh Phong, nên ngày giỗ của Hòa thượng được tổ chức khá long trọng và thu hút hàng chục ngàn người đến lễ Phật cầu may, đồng thời cũng là dịp cho phật tử và du khách tham quan cảnh đẹp ở đây.
Chùa Linh Phong, còn gọi là Linh Phong Thiền Tự do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên. Chùa do một nhà sư người Trung Hoa là Lê Ban sáng lập vào khoảng thế kỷ 16-17. Tục còn gọi tên là chùa Ông Núi do người dân thấy rằng nhà sư ở trên núi tu suốt năm. Tương truyền, ông Núi thường xuất hiện đem thuốc chữa bệnh cho dân khi có dịch bệnh xảy ra và đã cứu sống nhiều người. Cũng có truyền thuyết nói rằng: năm Minh Mạng thứ 7, nhà vua lâm bệnh nặng, các ngự y hết phương cứu chữa. Một đêm, vua nằm mộng thấy nhà sư mình mặc áo vỏ cây, một tay cầm quạt mo, một tay bưng chén thuốc dâng cho vua uống, sau đó cầm quạt quạt mấy cái rồi biến mất. Vua tỉnh dậy thấy người khỏe ra, hết bệnh. Chùa Linh Phong cũng là nơi mà danh nhân văn hóa Đào Tấn đến trú trong thời gian gần một năm và cụ Đào có soạn một bài ký về phong cảnh chùa, đề ở nơi vách. Không biết truyền thuyết về sự linh thiêng của chùa Linh Phong có đúng hay không nhưng với cảnh quan hữu tình vốn có, nó đã trở thành điểm thu hút khách du xuân và phật tử, đạo hữu trong nhiều năm qua.
Từ tờ mờ sáng ngày 24, đã có hàng ngàn phật tử và du khách bắt đầu đổ về chùa Linh Phong. Đã từ lâu, nơi đây trở thành điểm du xuân hấp dẫn của nhiều du khách trong ngoài tỉnh mỗi khi
Du khách tham quan hang Ông Núi
xuân về. Họ đến đây để cầu mong sự an lành, hạnh phúc cho gia đình mình vừa để ngoạn cảnh. Từ con đường đất, ngõ dẫn vào chùa ở thôn Phương Phi, phật tử và du khách có thể đi bộ hoặc xe máy đến chân núi Bà. Sau đó, đi bộ qua hơn 200 bậc thang đá mỗi lúc mỗi cao. Khi đó, ngôi chánh điện của chùa Linh Phong hiện ra trước mắt, với một vẻ đẹp mang nét kiến trúc truyền thống của chùa Việt Nam và những nét đặc trưng riêng về phong cảnh có từ xưa đến giờ. Quanh chùa đá mọc ngổn ngang, hoặc đứng sừng sững giữa trời hoặc chen chúc cùng cây cối, nơi thì chồng chất thành hòn giả sơn, có nơi lại dựng đứng như vách tường. Một dòng suối từ ngọn núi cao sau chùa đổ xuống chảy róc rách quanh năm.
Theo dòng người, chúng tôi bước vào chánh điện mới xây. Khói nhang làm cay xè mắt. Khách vừa cắm nhang vào bát đi ra ngoài, lại có đoàn người nối tiếp vào đốt nhang để lễ Phật. Phía ngoài cổng tam quan, phật tử và du khách sau khi lễ Phật xong bắt đầu dọn đồ ăn mà họ mang theo để ăn trưa. Đa số họ đi theo từng nhóm, gia đình, bạn bè, cơ quan, cùng lớp học… Tiếp tục theo dòng người, chúng tôi leo thêm khoảng 100 bậc thang đá nữa đến hang Ông Núi, nơi ở của người đã khai sinh ra ngôi chùa Linh Phong, đồng thời nơi đây cũng là căn cứ địa cách mạng nổi tiếng. Do có nhiều hang đá, nên phật tử và du khách chen nhau về đây để tham quan và nghỉ ngơi.
Trụ trì chùa Linh Phong, thầy Thích Huệ Quang cho biết: "Mỗi năm có hàng chục ngàn lượt phật tử, đạo hữu, du khách đến tham quan và lễ Phật tại chùa, nhiều nhất là vào mùa xuân. Trong 2 ngày 24 và 25 này, có khoảng 25-30 ngàn lượt người đã đến đây, nhà chùa đã chuẩn bị gần chục ngàn cơm hộp chay để phục vụ miễn phí cho phật tử và du khách đến lễ Phật tại chùa".
Trong tương lai gần, khi mà tuyến du lịch Phương Mai-Núi Bà được đưa vào khai thác thì chùa Linh Phong sẽ là một địa điểm thu hút nhiều hơn nữa du khách trong và ngoài tỉnh đến lễ Phật và tham quan.
. Nguyễn Phúc

Suối nước nóng

    Chuyện kể rằng nàng công chúa Chămpa lúc bấy giờ, không may mắc phải một chứng bệnh lạ, da dẻ sần sùi, lở lói. Mặc dù vua cha đã cho tìm kiếm thầy thuốc giỏi khắp nơi về chữa trị, nhưng bệnh tình của công chúa vẫn không khỏi. Để giúp công chúa vơi bớt nỗi buồn, một lần đi săn bắn, nhà vua mang nàng theo. Mặt trời sắp lặn, đến một góc rừng hoang vu, giữa cây cối đại ngàn, nhà vua nhìn thấy giữa dòng suối mát có những mạch nước ngầm trào lên trong vắt. Người bèn ra lệnh vây màn cho công chúa tắm. Không ngờ, khi nàng vừa ngâm mình xuống nước, ghẻ chóc tự nhiên tan biến hết, da dẻ trở lại hồng hào, xinh đẹp hơn xưa.
        Ngày nay, qua nghiên cứu, người ta đã biết trong nước nóng có chất lưu huỳnh (diêm sinh) và các khoáng chất rất thích hợp cho việc điều trị bệnh ngoài da, hô hấp, thần kinh. Trữ lượng mỏ nước nóng Hội Vân rất dồi dào. Đặc biệt, nguồn nước nơi đây được hòa tan với hơn 20 chất khoáng có cấu tạo hóa học dạng Cloruahydro Cacbonnat Sunfatnatri, được xếp vào loại nước khoáng nóng Silic cùng nhóm với một số viện điều dưỡng nổi tiếng trên thế giới...
 
 

 Nước khoáng nóng tỏa khói và chảy từ hố đào trên mặt cát .
 
Vùi trứng dưới lớp cát lòng hố .
 Khoảng 10 phút sau được moi lên .
 Và thưởng thức với món trứng lòng đào .
 

Nghề nón ngựa Phú Gia: Sản phẩm du lịch làng nghề độc đáo.

Trong 26 làng nghề được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định thì làng nghề nón chiếm một vị trí khá quan trọng. Từ lâu, người dân Bình Định rất tự hào về hình ảnh chiếc nón ngựa nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc. Xét trên bình diện lịch sử, từ thời Quang Trung, nón đã gắn liền với đội quân thần tốc Tây Sơn.
Trải qua bao thăng trầm của thời gian, chiếc nón không chỉ dùng để đội đầu che mưa, che nắng mà còn là món hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo, dùng cho giới quan lại, chức sắc và mang đậm bản sắc văn hóa Bình Định. Để minh chứng cho sức sống kỳ diệu đó, hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều làng nghề nón có tên tuổi như làng nón lá Thuận Hạnh (huyện Tây Sơn), làng nón Thuận Đức, làng nón Tân Đức, làng nón Châu Thành, làng nón Phú Thành (huyện An Nhơn), làng nón Kiều An, làng nón Kiều Huyên (huyện Phù Cát)… Đặc biệt, nghề nón ngựa Phú Gia, xã Cát Tường, huyện Phù Cát là một trong 5 làng nghề truyền thống được UBND tỉnh quy hoạch, gắn với phục vụ phát triển du lịch.
Tên gọi nón ngựa, bản thân nó đã nói lên cái riêng biệt, vừa dẻo dai bền bỉ vừa dùng để đội khi cưỡi ngựa. Ngày xưa, nón chỉ dành riêng cho giới phong lưu, đài các. Đặt biệt những chiếc nón ngựa bịt bạc, chạm trổ hình rồng phượng trên đỉnh nón chỉ được dùng cho giới quan lại, địa chủ, còn thường dân thì dùng nón lá buôn, nón chỉ lát. Hình ảnh các lý trưởng, chánh tổng ngồi trên lưng ngựa, đội nón ngựa bịt bạc trên các nẻo đường làng đã trở thành ký ức ở các làng quê Bình Định trước những năm 1945.
Ngoài Phú Gia, những thôn lân cận của xã Cát Tường như Kiều Đông, Xuân Quang cũng làm nghề chằm nón, tuy nhiên tập trung nhiều nhất vẫn là ở Phú Gia. Nghề chằm nón gắn bó mật thiết với quá trình lập làng Phú Gia, do đó đa phần những nghệ nhân làm nón ở Phú Gia đều có tâm huyết với nghề truyền thống quê mình. Có những nghệ nhân đã bước sang tuổi 80 nhưng hàng ngày vẫn gắn bó với công việc chằm nón như cụ Đoàn Thị Đâu, Đỗ Thị Nga…, chính họ là những nghệ nhân trụ cột truyền nghề cho các thế hệ con cháu mai sau.
Để làm được một chiếc nón ngựa truyền thống thì phải cần đến những nguyên liệu đặc biệt và sự khéo léo, kiên nhẫn của người thợ. Ngày nay nón ngựa truyền thống ít được các nghệ nhân chế tác với số lượng nhiều do tốn nhiều công sức nhưng sản phẩm khó tiêu dùng, hiệu quả kinh tế không cao. Do vậy, dù nghề làm nón ngựa ở đây vẫn được duy trì nhưng những chiếc nón đẹp và sắc sảo như thế cách đây vài chục năm ngày càng hiếm. Phần lớn bà con làm nón ngựa Phú Gia ngày nay đã cách tân chiếc nón ngựa thành một sản phẩm dễ làm, ít tốn thời gian, nguyên vật liệu dễ tìm hơn nhằm phục vụ được đại đa số bà con nhân dân lao động. Người thợ chỉ giữ lại những công đoạn chính trong quy trình làm nón ngựa truyền thống, một số nguyên liệu làm nón cũng được thay đổi để phù hợp với xu hướng thị trường.

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Phù Cát quê tôi

Phù Cát là một huyện miền biển của tỉnh Bình Định.

Địa giới hành chính

Diện tích 679 km²
Phù Cát gồm 1 thị trấn: Ngô Mây và 17 xã: Cát Sơn, Cát Minh, Cát Tài, Cát Khánh, Cát Lâm, Cát Hanh, Cát Thành, Cát Hải, Cát Hiệp, Cát Trinh, Cát Nhơn, Cát Hưng, Cát Tường, Cát Tân, Cát Tiến, Cát ThắngCát Chánh.
Phù Cát có sân bay Phù Cát, cách thành phố Quy Nhơn 35 km về phía Bắc.
Các trường THPT gồm: THPT Phù Cát 1, THPT Phù Cát 2, THPT Phù Cát 3,THPT Nguyễn Hồng Đạo, THPT Nguyễn Hữu Quang, THPT Ngô Mây.

Dân cư

Dân số: 194.100 người, trong đó nữ 100.200 người
Mật độ dân số 286 người/km²
Dân tộc chủ yếu là người Kinh, một số ít là người Bana

Du lịch

Du lịch của huyện có suối nước nóng Hội Vân, chùa Ông núi (Linh phong Tự) tại xã Cát Tiến, có bãi biển Cát Hải, Cát Tiến và Đề Gi, nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là Hòn Vọng Phu tại núi Bà...
Phù Cát có đặc sản nổi tiếng là chả cá. Dân gian có câu:
Anh đi ngang cửa Đề Gi
Nghe mùi chả cá chân đi không đành
Ngoài ra, Phù Cát còn có các làng nghề truyền thống như: đan lát(Trung Chánh), gạch ngói (Gia Thạnh), làng muối (Đức Phổ) thuộc Xã Cát Minh),nước mắm cá cơm (Đề Gi-Cát Khánh),đá mỹ nghệ (Cát Tường, Cát Nhơn, Cát Hưng)...
Du lịch của huyện có suối nước nóng Hội Vân, chùa Ông núi (Linh phong Tự) tại xã Cát Tiến, có bãi biển Cát Hải, Cát Tiến và Đề Gi nổi tiếng, có Hòn Vọng Phu tại núi Bà...ngoài ra, Phù Cát còn có suối nước nóng Chánh Thắng thuộc xã Cát Thành, phong cảnh rất hữu tình, mộng mơ. Phù Cát có đặc sản nổi tiếng là chả cá, bánh ít lá gai, bánh tráng gạo. Dân gian có câu: Anh đi ngang cửa Đề Gi Nghe mùi chả cá chân đi không đành Ngoài ra, Phù Cát còn có các làng nghề truyền thống như: đan lát(Trung Chánh), gạch ngói (Gia Thạnh), làng muối (Đức Phổ) của xã Cát Minh), nước mắm cá cơm (Đề Gi-Cát Khánh), đá mỹ nghệ (Cát Tường, Cát Nhơn, Cát Hưng)...

Giới thiệu về Làng nón Phù Cát

Ở Bình Định có chiếc nón lá Gò Găng nổi tiếng nhưng vẫn còn thêm một chiếc nón khác rất độc đáo, một sản phẩm ngày xưa chỉ dành cho giới quý tộc, quan binh triều đình, đó là chiếc nón ngựa...


Tên nón ngựa đã nói lên cái riêng biệt của nó. Dẻo dai, bền bỉ như ngựa chăng? Hay là nón để đội lúc cỡi ngựa? Cả hai đều đúng cả. Cùng là họ hàng nhà nón nên chúng hao hao giống nhau, nón Gò Găng như cô gái yểu điệu, nón ngựa như một kẻ đầy quyền uy, cứng cáp và bề thế. Muốn làm nón ngựa người thợ phải trải qua thời gian làm nón ngang vì nón ngựa mang nhiều nét mỹ thuật hơn. Nón ngựa lớn, đường kính gần 50 phân, độ xiên góc nón chừng 120 độ. Lá nón được ép và ủi thật phẳng, bằng cách kéo căng sợi lá trên con lăn bằng đồng hay bằng sắt bóng loáng, đã nung nóng. Lá nón rộng độ một phân xếp theo chiều dọc, lá này cách lá kia 2 ly, hẹp về phía đỉnh. Trước khi lợp lá, thợ phải tết một lớp lưới sườn toàn bằng cước thơm của tàu. Làm nan nón quả là công phu. Nan vành bằng mút đũa, đánh vòng và kết lại sao cho không thấy mối. Các vành phụ thật nhỏ, nhỏ dần bằng sợi chỉ là đến đỉnh, gần sáu trăm dải lá xếp dày. Mối chỉ ở lá đầu được lá thứ hai che và cứ thế cho đến dải lá cuối cùng.


Cầm chiếc nón nhìn kỹ, bạn vẫn không tìm ra mối chỉ. Nón ngựa nặng hơn nón ngang, lá màu vàng sẫm. Đó mới là xác nón. Phần quan trọng là trang trí. Bên trong nón được trang trí bằng cách thêu hoa văn, chữ hoặc hoa lá. Thân nón là các họa tiết, thông thường là sách bút, đôi khi là hình chim trĩ, chim công... Họa tiết thay đổi theo phẩm hàm, chức vụ. Chóp nón để trần, trên đỉnh có một chùm chỉ ngũ sắc phất phơ như bông hoa để cho người giàu dùng. Ngày xưa, từ viên xã trưởng trở lên mới có chụp bằng đồng hay bạc. Chụp được chạm trổ theo phẩm trật. Trên đỉnh là núm hình quả trám nhọn hoắt. Tất cả đều có quy ước sẵn. Quai nón to và dày, bằng lụa hay gấm. Cách buộc quai cũng khác. Giải nón dài độ 1,2m, quàng qua hai quai và thắt một lần ở dưới cằm, phần thừa tòng teng như đeo cà vạt. Có thế quai mới dễ điều chỉnh, nhất là khi đi ngựa. Trông thầy Chánh, cụ Lý cưỡi ngựa đội nón chụp bạc thật là oai. Dân làng ngại các uy của các thầy lắm nên có bài đồng dao hát vòng tròn thật hóm hỉnh:
Thầy Chánh, nón chụp bạc, áo tam giang
Cưỡi ngựa qua làng con gái chạy te...

Nón ngựa không bán ở chợ vì đắt giá hơn nón ngang rất nhiều. Người cần nón phải đặt hàng. Nón ngựa rất chắc chắn, công phu và mỹ thuật, đã vang bóng một thời trên quê hương Bình Định. Nón ngựa gần như một sản phẩm mỹ thuật. Ngày nay ít người dùng nên nghề chằm nón ngựa không phổ biến lắm.


Hiện nay, nghề làm nón ngựa ở xã Cát Tường, huyện Phù Cát, Bình Định vẫn được duy trì và phát triển. Làng nghề này có truyền thống đã hơn một trăm năm, trải qua biết bao thăng trầm nhưng nghề làm nón ngựa vẫn tồn tại và phát triển.

Cá chua nấu lá giang



Đặc sản của Bình Định khá phong phú. Nem chua chợ Huyện, cua Huỳnh Đế, cá Đại Gia (còn gọi là cá niên, sống ở các hóc đá nơi suối cao)... Trong số hàng “ẩm thực thượng thặng” còn có loại cá chua đậm đà hương vị của riêng miền đất võ.

Không ai biết cá chua có từ bao giờ, chỉ biết nó xuất hiện rất nhiều ở đầm Đề Gi (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định). Cho đến nay, loại cá này vẫn chưa nhân giống được, chủ yếu sinh trưởng, phát triển hoàn toàn tự nhiên. Gần đây, phong trào nuôi cá chua ở ao hồ khá phát triển, bằng nguồn giống lấy từ đầm Đề Gi. Có một bộ phận dân cư quanh đầm chuyên đi bắt cá chua con về ươm một thời gian thì đem bán cá giống với giá từ 1.500 - 2.500 đồng/con.

Ở Bình Định, cá chua có quanh năm, nhưng chất lượng cá ngon nhất và độ mùa xuân - hạ, và độ tuổi chừng 4 - 5 tháng. Nhiều nhà hàng ở Quy Nhơn đều có đặc sản cá chua, nhưng thực khách nơi xa đến không dễ gì biết mà gọi nếu chủ quán... quên giới thiệu hoặc không có “thổ địa” đi cùng.

Loại cá chua thường sinh trưởng tốt ở môi trường nước sà hai (nước lợ) nên chất lượng thịt rất thơm ngon, càng nhai kỹ càng cảm nhận nhiều vị ngọt của miếng cá. “Tuổi đời” cá chua quyết định độ thơm ngon. Cá còn nhỏ thì chất thịt chưa ngon, nhưng da cá và phần đầu lại rất quyến rũ. Cá già khiến cho phần da hơi cứng, nhưng thịt thì săn chắc ngon hết chỗ chê. Anh Quyền, chủ hồ nuôi cá chua ở đầm Thị Nại (TP Quy Nhơn) bật mí: “Cá bắt vào ban đêm thì ăn trọn con, không bỏ bộ phận nào, kể cả phần ruột; bắt buổi ngày thì phải bỏ đi bộ lòng vì nó còn đọng nhiều tạp chất khiến hương vị cá khi chế biến có vị đắng”.

Cá chua được chế biến nhiều món: cá chua hấp, cá chua nấu lá giang, cá chua nấu mẳn (chỉ nấu với nước và hành, không phụ thêm gia vị), nhưng thú vị nhất là nướng lá chuối ăn kèm muối ớt tươi. Món nướng thì ít nơi làm vì độ công phu của nó, nhưng nếu có một người quen nuôi cá chua, cuối tuần ra bờ hồ câu vài con, đốt than lên nướng và thưởng thức, hầu như ai cũng sẽ phải thốt lên: “Chu cha, thiệt là ngon!”.

Bài, ảnh: Đình Phú